Khởi đầu
Hành trình Việt Nam của tôi bắt đầu vào mùa hè năm 2016. Tôi đến từ Slovakia, một đất nước nhỏ ở châu Âu. Sau tuổi 30, tôi đã suy nghĩ khá lâu về việc làm điều gì đó ngoài vùng an toàn của mình: nhìn thế giới rộng hơn một chút và đi đến một nơi xa lạ nào đó. Tôi vốn không phải người ham du lịch hay phiêu lưu, nhưng sau một thời gian tìm hiểu, tôi đã thuyết phục được ba người bạn cùng đi nghỉ một tháng ở Nha Trang, một thành phố biển tuyệt đẹp của Việt Nam.
Ở Việt Nam
Nha Trang, với bờ biển ngoạn mục và không khí thư thái, gần như ngay lập tức chinh phục tôi. Tôi nhanh chóng yêu thành phố này, nền văn hóa sôi động, ẩm thực tuyệt vời cùng sự nồng hậu, hiếu khách của người Việt. Mới đi được nửa chuyến, tôi đã bắt đầu tìm lý do để ở lại lâu hơn.
Cô nông dân Lim
Vài ngày trước khi phải bay về nước, tôi nhận được một tin nhắn lạ. Tôi không nhớ chính xác từng chữ, nhưng đại khái là thế này:
"Hi, me Lim. Dalat lost Nha Trang 3 hours, me want speak English."
Tôi nhìn chằm chằm vào tin nhắn vài phút, cố hiểu ý nghĩa của nó. Sau khi tra Google, tôi đoán ra rằng người này, tên Lim, muốn nói cô ấy sống ở một thành phố tên Đà Lạt, cách Nha Trang khoảng 140 km, và muốn luyện tiếng Anh. Cuộc trò chuyện của chúng tôi bắt đầu như vậy. Chúng tôi nhắn tin mỗi ngày, dù khó có thể gọi đó là trò chuyện. Phần lớn thời gian tôi đặt câu hỏi, còn cô ấy chỉ trả lời có hoặc không.
Mỗi ngày vài lần, cô ấy hỏi tôi: "Ăn cơm chưa?". Ban đầu tôi thấy lạ. Sao cô ấy lại quan tâm chuyện tôi đã ăn hay chưa đến vậy? Nhưng giờ tôi hiểu đó là một cách thể hiện sự quan tâm rất lịch sự và phổ biến trong văn hóa Việt Nam. Bất chấp rào cản ngôn ngữ ngượng nghịu, tôi cảm nhận ngay một sự kết nối mạnh mẽ với cô ấy. Ở Lim có điều gì đó rất đặc biệt, chân thành và khiêm nhường.
Lúc này tôi đã bắt đầu phân vân về việc trở về nhà. Sau vài ngày nhắn tin, Lim gửi cho tôi vài tấm ảnh và tôi rất ngạc nhiên vì cô ấy trông không giống một cô gái Việt điển hình. Hóa ra cô thuộc một dân tộc thiểu số của Việt Nam tên là K'Ho. Hy vọng những bức ảnh này sẽ giúp bạn hiểu vì sao, thay vì lên máy bay, tôi lại thấy mình trên đường đi Đà Lạt.
Một buổi hẹn ở bên kia thế giới
Nhìn lại, có lẽ tôi nên tìm hiểu kỹ hơn về thành phố Đà Lạt bí ẩn này, chẳng hạn như việc nó nằm ở độ cao 1.500 mét so với mực nước biển. Sau một tháng ở Nha Trang nhiệt đới, ăn mặc như một du khách điển hình với quần short, áo thun và dép xỏ ngón, tôi hoàn toàn không chuẩn bị cho cú sốc nhiệt độ của một thành phố miền núi.
Tôi ngồi trong một quán ăn nhỏ gần chợ Đà Lạt chờ Lim. Chúng tôi hẹn gặp ở đó, nhưng cô ấy đã trễ hơn nửa tiếng. Cô không nghe điện thoại cũng không trả lời tin nhắn. Tôi bắt đầu nghi ngờ quyết định đến một thành phố mình chẳng biết gì, tự hỏi liệu cô ấy có thực sự xuất hiện. Tôi đã nghĩ gì vậy? Rõ ràng cô gái nông dân nhút nhát này sẽ không đến gặp một gã ngoại quốc nào đó. Tôi thấy kiệt sức, lạnh cóng và bực bội với chính mình vì đã quá ngây thơ.
Đúng lúc tôi định bỏ cuộc và tìm khách sạn nghỉ đêm, tôi thấy cô ấy. Một cô gái nhỏ nhắn bước về phía tôi, còn xinh hơn cả trong ảnh. Những phút đầu ngượng ngùng đến khó chịu, đầy im lặng và những nụ cười bẽn lẽn, nhưng khi buổi tối trôi qua, mọi thứ bất ngờ trở nên tốt hơn dù có rào cản ngôn ngữ.
Sau lần gặp đầu tiên đó, trong vài tháng tiếp theo chúng tôi bắt đầu dành những ngày cuối tuần bên nhau ở Đà Lạt hoặc Nha Trang. Khi ấy tôi vẫn thích cuộc sống biển ở Nha Trang hơn miền núi. Nhưng sau khoảng sáu tháng, cô ấy thuyết phục được gia đình cho phép rời nông trại và chuyển đến Nha Trang sống cùng tôi.
Những bước đầu với cà phê
Lúc này tôi đã bắt đầu xem Việt Nam là nhà. Lim và tôi thường về thăm gia đình cô ở một ngôi làng nhỏ dưới chân núi Langbiang. Mỗi chuyến đi đều khiến tôi sửng sốt trước sự khác biệt về điều kiện sống. Người dân sống rất giản dị, không có vòi tắm, nhà vệ sinh xả nước hay Wi-Fi. Phần lớn thức ăn vẫn được nấu trên bếp lửa, nước lấy từ giếng ngầm cạnh nhà hàng xóm, dùng chung cho 5-6 gia đình. Khi đó tôi chưa thực sự quan tâm đến cà phê, cũng không uống thường xuyên, nhưng mỗi lần trở về căn hộ ở Nha Trang, tôi không ngừng nghĩ tại sao những người trồng cà phê lại phải sống trong điều kiện khó khăn như vậy.
Vì tò mò, tôi bắt đầu tìm hiểu về ngành cà phê và lần đầu bắt gặp thuật ngữ "cà phê đặc sản". Đôi khi quan sát những người nông dân vác các bao cà phê tươi nặng trĩu từ trên núi xuống, tôi ngày càng kính trọng họ và công việc vất vả của họ. Vào năm 2017, cà phê đặc sản ở Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn sơ khai với rất ít nhà sản xuất và nhà rang tiên phong. Khi biết gia đình Lim trồng Arabica, loại chỉ chiếm 5% tổng sản lượng cà phê Việt Nam và được trồng ở độ cao rất lớn, tôi lập tức bị cuốn hút bởi ý tưởng tạo ra một sản phẩm cao cấp.
Chúng tôi bắt đầu cùng nhau uống và tìm hiểu về cà phê. Dù gia đình Lim đã trồng cà phê qua nhiều thế hệ, họ chưa từng nếm thử sản phẩm của chính mình. Điều này khiến tôi sửng sốt. Tôi so sánh với những nhà làm rượu vang hay bia ở châu Âu: làm sao họ biết chất lượng sản phẩm nếu chưa từng nếm thử? Họ luôn bán cà phê tươi hoặc phơi khô, sau đó được chế biến thành cà phê thương mại chất lượng thấp hơn.
Lim sau đó làm barista tại một quán cà phê trong sáu tháng. Trong khi đó, với nền tảng công nghệ thông tin, tôi thấy mình hứng thú hơn với việc rang. Đó là sự kết hợp hoàn hảo vì chúng tôi có thể bổ trợ kỹ năng cho nhau. Tôi mua một máy rang nhỏ có phần mềm ghi dữ liệu, thuê một góc trong quán cà phê ở Nha Trang và bắt đầu luyện tập. Tôi tìm được một ít cà phê ngoại nhập và lập tức yêu thích những mẻ rang nhạt, hương trái cây, lấy cảm hứng từ văn hóa cà phê đặc sản Bắc Âu.
Chỉ còn một mảnh ghép cuối cùng: khi gia đình và họ hàng của Lim đã sở hữu nhiều nông trại cà phê, tại sao không tự mình làm chủ toàn bộ quy trình? Cuối năm 2018, chúng tôi quyết định chuyển về làng của gia đình Lim và xây một xưởng sơ chế nhỏ dưới chân núi Langbiang, ngay tại nơi cà phê đã được trồng qua nhiều thế hệ.
Tiếp tục phần hai →